Cụ thể, có 51 cơ sở sản xuất xi măng được đưa vào diện thí điểm, nằm trong tổng số 110 cơ sở thuộc 3 ngành phát thải lớn: nhiệt điện, sắt thép và xi măng. Tổng hạn ngạch phát thải được phân bổ cho năm 2025 là hơn 243 triệu tấn CO₂ tương đương, tăng lên hơn 268 triệu tấn vào năm 2026 (tăng khoảng 10,4%).
Hạn ngạch phát thải được hiểu là mức trần khí nhà kính mà mỗi cơ sở được phép thải ra trong một thời gian nhất định. Nếu phát thải vượt mức được phân bổ, doanh nghiệp phải mua thêm hạn ngạch hoặc tín chỉ carbon để bù đắp. Ngược lại, nếu giảm phát thải tốt và còn dư hạn ngạch, phần dư này có thể được giao dịch trên sàn carbon trong nước theo lộ trình của Chính phủ.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ chủ trì việc phân bổ và hướng dẫn thực hiện, phối hợp với Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng. Các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm giám sát, đánh giá và tổng kết quá trình thí điểm trong hai năm 2025–2026. Song song đó, hệ thống đo đạc, kiểm kê, báo cáo và thẩm định phát thải cũng sẽ được hoàn thiện để đảm bảo minh bạch và phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
Với ngành xi măng, đây là bước chuyển quan trọng. Các doanh nghiệp không chỉ phải kiểm soát phát thải chặt chẽ hơn mà còn cần nâng cao năng lực kiểm kê khí nhà kính, tối ưu công nghệ, tiết kiệm năng lượng, tăng sử dụng nguyên – nhiên liệu thay thế để giảm cường độ phát thải. Áp lực tuân thủ là rõ ràng, nhưng đồng thời cũng mở ra cơ hội cho những đơn vị sản xuất hiệu quả có thể tạo thêm giá trị từ phần hạn ngạch dư.
Theo lộ trình, giai đoạn đến năm 2027 sẽ tập trung hoàn thiện cơ chế thí điểm. Từ năm 2028, việc quản lý hạn ngạch phát thải sẽ được áp dụng chính thức và bắt buộc đối với các ngành phát thải lớn. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm thực hiện cam kết giảm phát thải và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam.
Cem.Data

