Các đợt điều chỉnh bắt đầu từ ngày 23/9 và tập trung nhiều vào đầu tháng 10/2026. Mức tăng, thời điểm áp dụng và nhóm sản phẩm có sự khác nhau giữa từng doanh nghiệp, nhưng xu hướng chung cho thấy áp lực chi phí đầu vào đang tác động khá rõ đến mặt bằng giá bán xi măng.

Theo các thông báo được công bố, các doanh nghiệp đã và sẽ thực hiện điều chỉnh gồm:
Xi măng và Khoáng sản Yên Bái: tăng 30.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và bao jumbo tại thị trường Lào Cai (mới), áp dụng từ ngày 23/9.
Fico - YTL: tăng 50.000 đồng/tấn đối với xi măng bao 50 kg và xi măng PCB40 dân dụng xá, áp dụng từ ngày 1/10.
Xi măng Tây Đô: tăng 50.000 đồng/tấn đối với xi măng bao 50 kg, áp dụng từ ngày 1/10.
Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang: tăng 50.000 đồng/tấn đối với các loại xi măng, áp dụng từ ngày 1/10.
Vicem Hoàng Thạch: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao, 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời và 120.000 đồng/tấn đối với clinker CPC50.
Vicem Bút Sơn: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời, áp dụng từ ngày 5/10.
Xi măng Bỉm Sơn: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời, áp dụng từ ngày 5/10.
Vicem Tam Điệp: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời, áp dụng từ ngày 5/10.
Vicem Hải Phòng: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời, áp dụng từ ngày 5/10.
Vicem Sông Thao: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời, áp dụng từ ngày 5/10.
Vicem Hoàng Mai: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời, áp dụng từ ngày 5/10.
Vicem Hải Vân: tăng 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời, áp dụng từ ngày 5/10.
Trước đó, thị trường cũng đã ghi nhận thêm các doanh nghiệp điều chỉnh giá xi măng khi chi phí clinker, than, thạch cao, năng lượng, vận hành và logistics cùng nhiều yếu tố đầu vào có xu hướng tăng.
Điểm chung trong các thông báo của doanh nghiệp là áp lực từ chi phí sản xuất. Giá nguyên liệu, nhiên liệu và chi phí vận chuyển tăng khiến giá thành sản xuất xi măng chịu thêm sức ép. Nhiều đơn vị cho biết đã thực hiện tiết giảm chi phí, tối ưu vận hành và sử dụng nguyên vật liệu hiệu quả nhưng chưa đủ bù đắp phần chi phí phát sinh.
Đáng chú ý, nếu những thông báo cuối tháng 9 chủ yếu ghi nhận mức tăng khoảng 30.000 - 50.000 đồng/tấn thì nhóm doanh nghiệp VICEM đã đưa ra mức điều chỉnh cao hơn, phổ biến 70.000 đồng/tấn đối với xi măng bao và 100.000 đồng/tấn đối với xi măng rời.
Việc nhiều doanh nghiệp công bố giá bán mới trong khoảng thời gian ngắn cho thấy mặt bằng giá xi măng đang bước vào một đợt điều chỉnh mới. Diễn biến giá trong tháng 10 cần tiếp tục được theo dõi khi các doanh nghiệp triển khai mức giá mới theo từng sản phẩm, khu vực và hệ thống phân phối.
Cem.Data

